Tạm biệt chỗ vui chơi gần 7 năm.
Những vui buồn từ nay khép lại…
Tạm biệt chỗ vui chơi gần 7 năm.
Những vui buồn từ nay khép lại…

Tôi chụp bức ảnh này trên đỉnh đèo Khâu Phạ, trên đường đi từ Mù Căng Chải về Yên Bái. Người đàn bà bình thản ngồi khâu ở giữa lưng chừng núi, phía trước mặt là cả thung lũng mở rộng, mây trắng bay trên đỉnh núi. Người đàn bà bình thản ngồi khâu ở giữa lưng chừng núi, mặc kệ máy xúc ì xèo chạy xung quanh khắc phục vụ lở núi cách đấy vài hôm làm đỉnh đèo ngập trong bùn đất, mặc kệ cho những chiếc xe khó nhọc chạy qua quãng đường núi sạt, mặc kệ bọn khách du lịch hí hởn đi săn ảnh ruông bậc thang, lúa chín với mây bay….
Khi tôi nhìn lại bức ảnh tôi giơ máy lên bấm thật nhanh từ cửa xe ô tô, tự dưng tôi lại bật ra trong đầu hai câu thơ của Phạm Thiên Thư:
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say.
Người đàn bà bình thản ngồi khâu giữa lưng chừng núi kia có khi còn sung sướng hơn cái gã từ quan, bởi vì bà không phải từ bỏ cái gì hết, mà cuộc sống của bà đã vốn thế, vẫn bình thản, ung dung tự tại, và cuộc đời đấy là thực, không phải là giấc mơ.
Thường ngày, khi về nhà tôi hay phải đi qua nhà tang lễ Phùng Hưng, mỗi lần đi qua đấy tôi lại thấy sởn gai ốc và rùng mình một cái. Tôi hay tự bảo mình may mắn khi từ trước đến giờ vẫn chỉ phải đưa tiễn những người hết tuổi trời cho, tự an ủi mình bằng mấy câu cũng chẳng biết đọc được ở đâu:
Duyên trần đã hết
Bể cạn, non mòn
Cõi trần tục lụy
Việc chi mà buồn…
Nhưng đến ngày hôm qua tôi đã mất đi một người bạn, mà đến bây giờ tôi vẫn không thể tin được, thì chuỗi ngày mà tôi tự cho là mình may mắn đã chấm dứt. Cả ngày hôm qua và ngày hôm nay nữa, lúc nào tôi cũng muốn nháy vào nick, nhắn tin, hay gọi điện thoại để gào lên tại sao lại chết? Chỉ muốn tin cái chết giống như là bạn đang rong chơi đâu đó và sắp quay trở về.
Mà bạn đang rong chơi thật cơ mà…
Vừa hôm thứ 7 còn khoe ảnh trên FB bảo đang rửa chân ở Louver.
Vừa hai tuần trước khoe lấy được visa schenghen rồi nhá, bây giờ đi mua vé đây.
Vừa tháng trước tôi còn dọa gái độc thân, chả có tài sản gì còn lâu mới xin được visa schengen, cho tôi đi cùng thì xin visa dễ hơn nhiều. Còn trả lời tôi là bảo thằng làm giấy mời rồi đấy chứ, nhưng nó bảo gái thì nó tiếp, giai thì thôi.
Còn cả những lần chỉ vào tôi bảo đây là bạn gái tớ, chỉ vì tôi ngồi nghe được hàng giờ những chuyện mà tôi bảo là yêu đương nhăng nhố của gái già.
Còn tếu táo bảo tôi từ giờ đến cuối năm mà không lấy vợ thì sẽ bảo bà già đem lễ hỏi sang nhà tôi.
Tôi cứ muốn gào lên tại sao lại chết, đéo ai lại chết lãng xẹt như thế, đéo ai lại chơi đóng hòm từ bển mang về như thế.
Trước hôm đi còn bảo tự dưng bay lúc 23.30 đêm thấy sợ sợ, chở nhau lên sân bay đi.
Tôi còn bảo tự đi đê, đi Đà nẵng sinh nhật phượt rồi. Đi cả châu Âu một mình còn không sợ, sợ gì bố con thằng nào ở Việt Nam.
Tôi còn chưa kịp bảo hôm nào về thì đón, chưa kịp bảo hôm nào về nhớ mang quà sinh nhật từ bển về, còn chưa kịp…
Tôi còn nghĩ, hay mình chưa đòi cái ba lô về trước hôm bạn đi, có phải bạn còn nợ nần tôi để phải quay về mà trả lại. Hay như hôm đấy tôi không đi Đà nẵng mà đưa bạn ra sân bay, có phải còn nhìn thấy lần cuối không…
Thôi bình yên nhé. Chết chẳng qua là một giấc ngủ dài…
Càng rộng càng cô đơn, mỗi năm ngàn trận bão, tan nát cả tâm hồn…
Thêm một ngày nữa ở Danba, được ở phòng sạch, được ăn uống đầy đủ nên các bạn trong đoàn đều phởn phơ, tinh thần lại lên. Nghĩ đến chỉ còn vài ngày nữa phải về, ai cũng chán, ai cũng bảo là thời gian đi nhanh quá. Đang được ăn chơi xả láng, giờ phải quay về nhà đi làm, ai cũng nản. Mọi người đang nghĩ ra những kế hoạch đi tiếp.
Nguoi Tang o Danba khac han voi ng Tang tren cao nguyen Thanh Tang. Ngoai quan so khac ra. Ho con noi tieng khac han. Ban guider bao chung no noi tao chang hieu nen fan lon fai giao tiep bang tieng Tau.
Người ở Danba khác hẳn với người Tạng ở trên cao nguyên Thanh Tạng, ngoài quần áo sặc sỡ, họ còn nói tiếng khác hẳn. Bạn guider bảo ở đây người ta nói, bạn ý không hiểu gì, nên phải giao tiếp bằng tiếng Tầu. Người Tạng ở đây sống ở trên những ngọn núi cao, cách cả 400 -500 m so với thị trấn Danba. Đường đi lên chỗ họ ở là những con đường đèo ngoằn nghèo, cua tay áo, ngồi trên xe, một bên là dốc dựng đứng một bên là vực sâu thăm thẳm, thế mà bạn lái xe chạy xe vèo vèo, nhìn rất sợ.
Trên mỗi đỉnh núi cao là những thung lũng nho nhỏ, mỗi thung lũng là một xóm, trên đó họ trồng ngô, trồng đậu… Có cả những trường học ở trên cao. Rất nhiều những căn nhà cổ, những nhà giầu đều có một tháp canh rất cao, mỗi làng có một vài tháp canh như thế để canh phòng và chống lại những kẻ xâm nhập. Không biết lịch sử vùng này như thế nào mà họ lại phải cảnh phòng cẩn mật như thế.
Ngày mai chúng tôi sẽ về Thành Đô, bỏ lại vùng đất Tây Tạng huyền bí và nhiều điều kỳ lạ ở sau lưng. Ở đấy có thảo nguyên bát ngát, đồng cỏ, dê, cừu… và cả những ngọn tháp, những bức tượng phật, những chiếc kinh luân huyền bí. Để hiểu được vùng đất này còn phải cần nhiều thời gian, đọc thêm nhiều sách vở, và nếu còn duyên thì sẽ được quay lại thêm những lần sau nữa.
Sau đêm ngủ trong nhà trọ kinh hoàng, ngày hôm nay chúng tôi dậy từ tờ mờ sáng và lên xe đi Danba.
Đêm qua mãi không ngủ được, chăn thì hôi lại còn có vết như máu khô nên không dám đắp lên người chỉ dám đắp ở chân. Mặc nguyên cả quần áo ấm đi ngủ, định bụng sáng dậy phải chụp lại ảnh cái phòng trọ đấy nhưng mắt nhắm mắt mở quên mất.
Đường đi cũng kinh hoàng không kém gì nhà trọ, cả quãng đường hơn 100km bị sạt lở từ đợt lũ ở tỉnh Cam Túc trước lúc tôi đi Tây tạng khoàng 1-2 tuần gì đấy. Xe chạy xóc nẩy tưng tưng, hai thằng ngồi đằng sau chỉ thiếu mỗi nước nẩy đập đầu vào trần xe.
Quãng đường từ Hongwen xuống Danba là quãng đường đèo, chỉ có xuống dốc và chạy dọc theo dòng Trường Giang, nước sông Trường Giang ở Hongwen còn hiền hòa, nhẹ chảy, càng đi xuống, dốc núi càng hiểm trở, đá ngầm dưới lòng sông, cộng thêm cả trăm ngàn dòng suối lớn nhỏ đổ vào, dòng sông trở nên hung dữ. Sóng nược cuộn ngược chiều, hình ảnh làm làm tôi nhớ đến những truyện tranh đọc ngày bé về những trận đánh nhau giữa người và thủy quái.
Càng đi xuống, chúng tôi càng bỏ xa cao nguyên Thanh Tạng, hai bên đường không còn đồng cỏ bát ngát, từng đàn bò Yak, dê, cừu… nhởn nhơ gặm cổ nữa, thay vào đó là núi mỗi ngày một cao, cây mỗi lúc một to và là cây của xứ ôn đới, không còn những cây bụi lúp xúp hoặc cỏ. Đặc biêt nhất là những căn nhà của người Tạng cũng biến đổi theo. Vẫn kiến trúc đặc trưng là mái bằng và cửa sổ nhiều mầu sắc, nhưng không phải là nhà 1 tầng thấp lụp xụp và thay bằng nhà 2-3 tầng.
Những ngôi nhà xây bằng đá và nhiều mầu sắc thấp thoáng giữa mầu xanh của núi rừng và ruộng ngô vừa thu hoạch xong, gần ngả sang mầu vàng. Cộng với nắng vàng nhè nhẹ của vùng cao làm khung cảnh thanh bình khiến tôi có cảm giác như đang ở một làng quê nào đấy giữa lòng Châu Âu chứ không phải Trung Quốc.
Dòng sông càng rộng thì ruộng ngô, vườn cây và nhà cửa hai bên càng nhiều, có những chỗ vòm cây đan che kín cả đường. Đấy là những cây lê, táo trĩu quả, tưởng như với tay lên là hái được. Nhưng đường đi vẫn xóc nẩy tưng tưng.
Càng đi xuống dưới, người Hán càng nhiều, người Tạng càng ít đi, Bạn guider không giỏi tiếng Hán nên mọi giao dịch phó mặc cho bác tài. Không còn những mái ngói dát vàng, kinh luân xếp dài theo cả dẫy phố, không còn những stupa và mandala to lớn nữa, chỉ còn những stupa nho nhỏ ở góc vườn hoặc cuối ruộng ngô.
Cũng không còn những người Tạng tay cầm kinh luân, miệng lầm nhẩm những câu thần chú Um mani pade me hum nữa, mà thay vào đó là những người Tạng quần áo mầu sắc sặc sỡ sạch sẽ, giống người Tầu hơn người Tạng. Có lẽ tại thiên nhiên ở dưới này khắc nghiệt hơn, địa hình đồi núi nhấp nhô nên người Tạng không còn là người du mục, trâu bò không thể thả ra đồng tự ăn. Ở đây họ phải nuôi trồng cấy hái, lấy đâu ra thời gian mà hai buổi sáng chiều đi vòng quanh tu viện tụng niệm.
Tôi cũng không biết vì thế mà niềm tin của họ kém những người Tạng ở trên cao kia, hay vì người Tạng ở trên cao, nên gần đức Phật hơn vì thế niềm tin của họ cũng mãnh liệt hơn.
Xin cuộc đời cho ta được bình yên, để ta mãi được yêu như bây giờ…
Không biết ta có đang được yêu không, nhưng ta đang bình yên. Với ta bình yên là gì? Là những người bạn luôn xung quanh ta, là cuộc sống không phải lo nghĩ, là không bận rộn, nhưng cũng không nhàn rỗi, là…
Nhưng ta cô đơn. Tự ta dấu ta vào nỗi cô đơn, nỗi buồn triền miên. Thế thì bình yên để làm gì?
Sau một ngày nghỉ ngơi ở phòng dầy đủ tiện nghi, có phòng tắm và giường đệm êm ấm nên mọi người cũng lại sức. Mọi người quyết định quay lại khúc sông Hoàng Hà giao với Dương tử chỗ hôm qua vì mệt mà chúng tôi bỏ qua. Bạn guider sau khi nghe quyết định của bọn tôi thì rất ngạc nhiên, hỏi sao hôm qua không đi, giờ quay lại vừa tốn tiền xe, vừa tốn tiền thắng cảnh, mất 1000 tệ chứ ít à?
Chúng tôi nghĩ bụng, chả sao, tiêu thêm chỗ này thì cũng chưa hết phần tiền deposit tour chúng tôi đã đặt ở Việt Nam.
Đúng là nếu bỏ qua khúc quanh của sông Hoàng Hà thì rất phí, cảnh đẹp, trời xanh, mọi người leo lên và đều rất hài lòng, chỉ có không được cưỡi ngựa chạy trên thảo nguyên như dân du mục thôi, vì có ai biết cưỡi ngựa đâu nên rất sợ.
Hôm nay là ngày thứ 13 của hành trình, trời càng ngày càng thu, trời trong xanh, mây trắng bồng bềnh, cỏ thì vàng hơn những ngày trước, thế nên cảnh vật xung quanh rất rất rất và rất đẹp. Tôi không thể chụp hết được cảnh đẹp những nơi đi qua vì cảnh mỗi lúc một biến ảo và tôi thì chỉ ngồi trên xe chạy lướt qua cả một vùng thảo nguyên mênh mông.
Buổi chiều cả đoàn được ăn một bữa xả láng nhất từ hôm đi đến giờ, tốn mất 500 tệ. Trên đường đi tiếp chúng tôi ghé vào thăm nhà bạn guider ở một làng của người Tạng, nhưng không phải là làng truyền thống mà là làng tái định cư do chính phủ xây dựng. Mẹ bạn guider nhiệt tình mời chúng tôi ăn món món tsampa và uống trà sữa truyền thống của người Tạng, trà sữa thì dễ uống, còn tsampa thì khó ăn, nó giống như bột đậu xanh trộn đường và sữa tươi, ăn cứ lổn nhổn trong mồm, nuốt cũng khó, nhổ ra cũng không được.
Hôm nay chúng tôi định ở lại Hongwen một đêm, nhưng bạn guider bảo ở đây người ta không thích người nước ngoài, đêm qua cảnh sát đứng gác ngoài khách sạn suốt đêm. Mà đúng thật, lần đầu tiên tôi thấy một thị trấn mà cảnh sát chạy vè vè suốt ngày, bắc loa đuổi xe oto đỗ trên đường chả khác gì Hà Nội, mà đường thì rộng mênh mông, có mấy cái xe ô tô đi lại đâu.
Vì muốn quay lại chỗ sông Hoàng Hà uốn khúc và la cà ở nhà bạn guider nên giờ chúng tôi phải trả giá, đường đi từ Hongwen xuống rất khó đi do bị sạt lở vì trận động đất ở Cam t. Trời tối bác tài cũng không dám đi tiếp nên chúng tôi đành phải ghé vào một nhà trọ ven đường. Phòng trọ ẩm mốc, chăn hôi rình, đèn điện tối tù mù. Tôi không dám đắp chăn, mặc nguyên quần áo chui lên giường, sáng mai mọi người sẽ đi sớm. Nhưng không biết đêm nay làm sao để ngủ khi mà các bạn công nhân đang ì ùng làm đường ngay trước cửa.
Chắc qua đêm nay, sẽ có thêm bạn nản lòng đi phượt và muốn về nhà.
Thôi cố ngủ vậy, nhưng mà làm sao ngủ được, bây giờ mới có 9h tối.
Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che
Em đừng quay lại nhìn anh nữa
Anh biết em đi chẳng trở về.
Em nhớ làm chi tiếng ái ân
Đàn xưa đã lỡ khúc dương cầm
Dây loan chẳng đượm tình âu yếm
Em nhớ làm chi tiếng ái ân.
Bên gốc thông già ta lỡ ghi
Tình ta âu yếm lúc xuân thì.
Em nên xóa dấu thề non nước
Bên gốc thông già ta lỡ ghi.
Chẳng phải vì anh, chẳng tại em
Hoa thu tàn tạ rụng bên thềm
Ái ân sớm nở chiều phai rụng
Chẳng phải vì anh, chẳng tại em.
Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan,
Tình kia sao giữ được muôn vàn
Em đừng nên giận tình phai lạt
Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan.
Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che.
Em đừng quay lại nhìn anh nữa
Anh biết em đi chẳng trở về.
Tôi lại đã sai, đã lại làm một người con gái yêu tôi phải đau khổ. Biết làm sao được, tình cảm của tôi không đủ lớn để đến tình yêu. Tôi không thể ép được chính bản thân mình yêu một ai đó.
Và lần này tôi đã sai gấp 2 lần, và cũng là lần sai lầm thứ 2 vì tôi đã làm mất đi luôn một người bạn mà tôi rất quý.
Mong em tìm được hạnh phúc cho riêng mình.
Ban ngày, giữa những lúc đi ngoài đường, giữa những lúc làm việc gì đấy, tôi rất muốn viết ra những điều mình đang nghĩ, nhưng không có thời gian, không có điều kiện. Cứ bảo tối về sẽ viết, nhưng tối về cứ thức thức ngủ ngủ kiểu này chằng viết được gì.
Mà tôi muốn viết gì. Toàn những chuyện vụn vặt kiểu như tôi đang chán làm việc, tôi đang nhớ một người, tôi đang chán một người, tôi đang cần một thứ gì đấy làm thay đổi cuộc sống của tôi, tôi đang muốn đi xa để xả xì trét…
Nhưng bao trùm lên tất cả là tôi đang rất nhớ một người. Nếu có ở đây tôi sẽ nghiền nát để trả thù nỗi nhớ.
Tôi cũng muốn đi lang thang đâu đấy, một mình. Tôi thèm nhìn thấy lại một lần thảo nguyên rộng lớn, hồ nước mênh mông trên cao nguyên Tây Tạng. Giọng hát hào sảng băng qua những đồng cỏ mênh mông.
Mọi người trú trong căn nhà nhỏ, riêng mình em lặng lẽ bước trong mưa…
Lúc nãy lái xe giữa đêm mưa lạnh, đồng hồ báo ngoài trời 9 độ. Trong xe ấm xực, nhưng tự dưng lại nhớ đến câu thơ này. Tự dưng lại nhớ đến cảm giác ấy. Cảm giác của những đêm trời mưa tuyết, đi bộ trên đường về nhà. Nhìn qua những ô cửa sổ nhỏ đèn vàng ấm áp… Nhớ những lúc cô đơn chỉ muốn khóc.
Giờ chỉ là cảm giác, thỉnh thoảng quay lại, thỉnh thoảng thoáng qua.
Hình như giờ đây, blog này của tôi gần như vô danh. Những bạn bè ngày xưa hay ra vào blog giờ chuyển hết sang FB, tôi cũng chuyển sang FB, nhưng FB không còn có sự riêng tư giống như Y!360, mọi cái public hết lên và tôi thấy sợ. Một số người dùng FB để nhẩy xổ vào cuộc đời tôi, không còn chốn riêng tư cho những bạn bè mà tôi quen trên mạng. Những người bạn có khi vài năm mới gặp hoặc chưa bao giờ gặp mà tôi quen từ thời tôi còn đang học ở bên Nga.
Cũng buồn cười, nếu muốn giữ đời sống riêng thì đừng public lên internet, còn đã public thì đừng kêu ca. Nhưng tôi vẫn muốn viết ra những điều tôi suy nghĩ và không muốn lưu giữ trong máy tính, vì đôi khi nó máy tính bị mất data, đôi khi tôi muốn chia sẻ với một người nào đấy tình cờ tìm được blog của tôi.
Nhiều người muốn nổi tiếng, tôi cũng đã có lúc muốn mình nổi tiếng, nhưng giờ tôi muốn mình vô danh.
Tháng giêng mưa ngoài phố
Mưa như là sương thôi
Những bóng cây dáng khói
Như mộng du bên trời
Tháng giêng ngày mỏng quá
Nỗi buồn nghe cũ rồi
Mà bên kia tờ lịch
Nỗi niềm mưa xót rơi
Tháng giêng mưa trên tóc
Những người đi lễ chùa
Theo giọt mưa cầu phúc
Tiếng chuông từ bi mơ
Tháng giêng mưa dưới bến
Mỏng mai cô lái đò
Mắt mưa em lúng liếng
Trói tôi bằng vu vơ
Tháng giêng mưa như cỏ
Non xanh đến tận trời
Trước vô cùng năm tháng
Thơ mình sương khói thôi
Nguyễn Việt Chiến
Đôi khi tôi muốn tập hợp những bức ảnh tôi đã chụp về những nơi tôi đã đi qua thành một quyển sách ảnh, mỗi tấm ảnh sẽ có một câu chuyện đi kèm. Thế nhưng với tính lười biếng của mình thì chắc dự định vẫn chỉ là dự định.
Ngày xưa, lúc còn bé tôi có ước muốn được ngao du thiên hạ. Khi tôi đọc Giamilia - chuyện núi đồi và thảo nguyên tôi muốn được chạy tung tăng trên thảo nguyên xanh ngắt giữa những cây thông, cây phong. Khi tôi đọc Cochia lùn, tôi muốn được thấy tuyết rơi. Khi tôi đọc Tomex và thủ lĩnh tia chớp đen, tôi muốn được cưỡi ngựa xuyên qua những cánh rừng châu Phi… Đấy là lúc còn rất bé, lớn lên hơn một chút hình như ước muốn đấy biến đâu mất trong đầu tôi, nghĩ lại tôi thấy mình là một người nhạt nhẽo, tôi đã bỏ phí mất quãng đời đẹp nhất thì phải. Tôi thực sự quay lại ước muốn ngao du thiên hạ khi tôi sang Nga, những cánh rừng bạch dương, những bông tuyết ngoài cửa sổ dường như đã đánh thức những ký ức xa xưa. Nhưng thời gian thì nhiều mà tiền thì không có, nên tôi chỉ biết đi lang thang trong thành phố.
Hai năm gần đây, khi tôi tạm gọi là chủ động được cuộc sống của mình, tôi đem từng ước muốn của mình ra thực hiện. Đầu tiên là mua cho mình một chiếc máy ảnh chuyên nghiệp, thứ mà những lúc lang thang ở Moscow tôi từng ao ước, thèm muốn. Tiếp đến là những chuyến đi…
Và trên những chuyến đi, mỗi bức ảnh với tôi là một câu chuyện mà tôi sẽ muốn kể trong quyển sách dự định.
Những câu chuyện có thể sẽ như thế này:
Những chuyến đi phượt, tôi cứ nhắm mắt một mắt, mở một mắt nhìn đời qua ống lens, ảnh về thì nhiều nhưng xem lại, những bức ảnh ưng ý rất ít. Tôi không hiểu tại sao, rõ ràng cảnh rất đẹp, người rất đẹp tại sao ảnh lại không ưng ý. Hay tại mình không biết photo shop. Trong chuyến đi Tây tạng, một người bạn đã hỏi : "Tại sao bọn em (những thằng chụp ảnh) không bỏ máy ảnh xuống mà nhìn bằng mắt thật của mình, mắt mình không hơn cái lens kia à". Rồi anh kể : Có một người thợ sửa đàn rất giỏi, nhưng anh không thể nghe được bất kỳ một bản nhạc nào, vì cứ nghe nhạc là anh thấy lỗi của những cây đàn. Bỏ máy ảnh xuống, nhìn đời bằng mắt mình trước khi mắt bị đóng khuôn vào những frame ảnh. Quả thật sau khi bỏ máy ảnh xuống, ngắm nghía chán rồi giơ máy lên bấm - tôi cảm thấy ảnh có hồn hơn hẳn.

Không như Tây Tạng là một giấc mơ kéo dài 5 năm, từ khi giấc mơ chỉ là giấc mơ, không biết bao giờ mới có đủ tiền và thời gian để đi được, Myanmar lại khác, đến bất ngờ trong những lần lướt web và tôi muốn đi chỉ vì một lý do trốn Tết. Tôi sợ những ngày nghỉ Tết dài lê thê với những vụ nhậu nhẹt, những câu chúc tụng theo khuôn mẫu có sẵn, những gương mặt đang già dần theo năm tháng…
Không như Tây Tạng, vì là giấc mơ kéo dài 5 năm nên tôi nghiên cứu rất kỹ từ địa lý, lịch sử, văn hóa, tôn giáo… với một lô sách vở và thông tin từ internet. Lần đi Myanmar này tôi chẳng chuẩn bị cho mình bất kỳ một kiến thức gì ngoài một số cái đã có sẵn trong đầu, đấy là người Myanmar đàn ông mặc một cái gì đấy giống váy, đất nước nghèo, lạc hậu và bị cấm vận, quân đội nắm quyền điều hành đất nước, đồ ăn thì hình như có món gì đấy cho gia vị gần giống mùi húng chó vì có một lần vào bếp ở KTX có mấy bạn Myanmar nấu đồ ăn, ngửi mùi này tôi tự dưng thèm thịt chó kinh khủng.
Và thế là lên đường, lần này cũng giống như Tây Tạng, tôi chỉ nói đi loanh quanh Thailand và Singapore đại khái thế, sợ nói đi Myanmar chỗ đánh nhau nội chiến rồi mọi người ở nhà lại lo lắng. Nhưng hóa ra Myanmar không như tôi từng nghĩ.
Ấn tượng đầu tiên là thành phố Yagoon tuy nhà cửa cũ kỹ nhưng hệ thống đường xá rất hiện đại, đường ô tô 6 làn giao nhau theo hình bàn cờ, xe ô tô tuy cũ kỹ nhưng chạy phăm phăm đầy đường, và vì đường phố quy hoạch tốt nên không hề có chuyện tắc đường.

Ấn tượng tiếp theo là đạo Phật ở Myanmar, tôi luôn hình dung ở đây người dân sùng kính đạo Phật như ở Tây Tạng, nhưng không phải. Ở Tây Tạng mọi cái đều linh thiêng, từ cái hồ trên núi, hòn đá giữa đường… chưa kể chùa chiền, tu viện. Nhưng Myanmar tôi cảm giác chùa với họ là nhà, ngay dưới chân tượng Phật người ta ăn, ngủ, chơi cờ, trò chuyện, thậm chí có những đôi bạn trẻ ôm nhau ngồi tâm sự. Người ta đến chùa thường đi tay không, thỉnh thoảng mới có người mang hoa, và không phải ai cũng nhăm nhăm dát vàng lên tượng như tôi nghĩ… Đạo Phật là một cái gì đấy rất gần với đời sống hàng ngày.

Và con người Myanmar - hiền lành, thân thiện, chăm chỉ làm ăn. Tôi chưa thấy ai từ chối không cho tôi chụp ảnh, chỉ cần đứng cười với họ một cái là bạn muốn chụp gì thì chụp. Và người Myanmar chăm chỉ làm ăn, buôn bán gánh gồng khắp đường phố không ngại ngần.

Và đất nước Myanmar tươi đẹp gần như hoang sơ chưa bị văn minh đô thị tàn phá, đi đến đâu cũng một mầu xanh mướt.

Điều kỳ lạ nhất tôi gặp ở Myanmar đấy là máy bay, máy bay ATR bình thường thôi, nhưng sẽ bay vòng quanh lần lượt các điển Yagoon - Bagan - Mandalay - Heho - Ngapali. Bạn mua vé sẽ được bay vòng quanh đất nước Myanmar đến điểm nào cần xuống thì xách hành lí xuống sân bay, còn không bạn vẫn có thể xuống đường băng đứng hút thuốc, gọi điện thoại rồi lại chạy lên bay tiếp.

Một chuyến đi đáng nhớ và bên những người bạn rất vui.
Trời lạnh và say, tự dưng câu hát cũ lại vang lên trong đầu, không phải lần đầu tiên, nhưng hôm nay cứ day dứt, bắt ta phải viết ra.
"Sao chẳng đến cùng em, cơn mưa đêm lạnh lắm…"
Cơn mưa và đêm lạnh lắm.
Đêm nay không mưa nhưng rất lạnh, ánh đèn vàng ngoài cửa sổ làm ta đang nhớ về khung cửa sổ ấy, đêm lạnh ấy, cơn mưa tuyết ấy… Thời gian đã đi qua, ta đã đi qua tuổi 20, không dại khờ mà quá nhiều toan tính làm ta không dám đi đến cùng…
Ngày cuối cùng, ta biết ta sẽ phải rời xa mãi mãi, gục đầu vào mùi hương quen thuộc mãi không muốn rời xa. Đến tận bây giờ, mỗi khi trời lạnh, đi ngoài đường bất chợt gặp mùi nước hoa đấy ta lại điên cuồng phóng theo, dù chắc chắn là không phải, không đúng nhưng vẫn hy vọng, vẫn đi theo hết con đường này đến con đường khác…
Làm sao để quên được, làm sao ta trở thành người khác.
"Không thể hát trong đêm yên lặng, em chỉ biết yêu anh vô cùng…"
Ta chỉ biết yêu vô cùng mà không thể yêu đến cùng.
Tôi không nghĩ mình sẽ có dịp quay lại Apchai. Lần trước khi tôi đến, đường đi còn vô cùng khó khăn, đường núi gập ghềnh, chưa có cầu, phải lội xe qua suối. Buổi chiều sau khi leo lên cột mốc số 0, mệt thở cả ra tai nhưng nhìn cơn mưa sập tới dù các anh bộ đội đồn biên phòng 317 và 405 nhiệt tình giữ lại nhưng chúng tôi đã vội vã quay ra vì sợ nước lũ ngăn đường chúng tôi.
Ấn tượng đấy dường như níu chân cản bước tôi khi các anh đồn biên phòng 405 gọi điện rủ chúng tôi quay lại Apachai vui tết năm mới cùng bà con dân tộc Hà Nhì. Nhưng rồi tính ham vui đã chiến thắng, tôi lại xách ba lô lên đường. Lần này chúng tôi đi xe khách lên Điện Biên, lên đến nơi trời còn mờ mịt sương, chẳng biết làm gì, sẵn có xe vào Mường Nhé, lại tính vốn cả nể, chỉ cần vài lời chèo kéo của bác tài thế là chúng tôi lên xe đi tiếp dù kế hoạch lúc đầu là nghỉ ngơi một tí ở Điện Biên cho lại sức.
Thị trấn Mường Nhé không thay đổi gì so với lần trước chúng tôi đến. Vẫn con đường to rộng, chắc trải nhựa xong đã lâu nhưng lại bụi mù đất đỏ. Vẫn bến xe dường như chưa xây xong quây tạm bằng tre nứa. Chúng tôi tìm đến quán cơm lần trước vừa ăn cơm, vừa nói chuyện với bác chủ quán một hồi mà bác vẫn chẳng nhớ chúng tôi đã từng qua.
Ăn xong, theo đúng chỉ dẫn của anh Lệ, đồn phó đồn biên phòng 405 chúng tôi đi xe ôm lên đồn. Lái xe người Mông thật thà chất phác dọc đường chẳng nói một câu, nhưng hỏi sao mặc phong phanh không lạnh thì trả lời: Đứng không thì thấy lạnh nhưng thấy có khách thì nóng hết cả người chả biết lạnh là gì.
Đồn biên phòng 405 đón chúng tôi vẫn nhiệt tình như lần trước, vẫn rượu rót tràn ly, vẫn những món ăn lấy từ vườn tăng gia của doanh trại. Những cán bộ đồn chủ chốt vẫn thế, các anh có những người bám đồn, bám bản đến cả chục năm như anh Lệ, anh Thọ, anh Trìu, ngay cả những bạn trẻ cũng có bạn thâm niên ở các đồn biên phòng đến 6-7 năm. Chỉ có chiến sỹ là mới, có những bạn hết nghĩa vụ trở về quê hương, hoặc những bạn chuyển sang đóng quân đồn khác. Nâng chén rượu mà mũi cay cay, giữa chốn biên cương rừng xanh núi thẳm mà các anh vẫn bám trụ đến cùng, trong khi mình khó khăn một tí đã thấy nản, thấy chùn bước chân. Trong đầu cứ văng vẳng câu hát: "Mời anh mời chị mùa xuân lên đây thăm tôi, nơi biên cương khuất nẻo xa người, núi rừng mịt mù sương. Mời em một lần rời xa nơi đang yên vui, lên đây thăm lính ở trên rừng để cùng ngọt bùi sớt chia…"

Chúng tôi lên Apchai chưa phải là mùa xuân, chưa phải là tết của người Kinh, Mông, Thái… Mà mới chỉ là tết của người Hà Nhì mà các anh bộ đội biên phòng đã vui lắm rồi. Không biết tết của người Kinh, khi các anh vẫn phải bám bản, bám đồn không được về quê ăn tết, có khách lên chơi các anh sẽ vui đến thế nào. Vẫn biết với các anh : Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt, nhưng…
Dù mùa xuân chưa đến nhưng khi vụ mùa đã hoàn thành, khi thóc lúa chất đầy bồ là lúc người Hà Nhì đón tết. Người Hà Nhì cũng đón Tết ba ngày, nhưng không có đêm giao thừa. Ngày mùng một tết theo quan niệm của người Hà Nhì là ngày rồng, từ sáng sớm mọi nhà bắt chú lợn béo nhất vườn đem thịt. Người Hà Nhì nói vui con lợn trẻ nhất cũng phải hai năm tuổi mới thịt được. Người Hà Nhì thả lợn rông quanh sân nhà và không cho ăn loại cám tăng trọng nên phải 2 3 năm mới được 1 tạ để đem thịt.
Cả nhà xúm vào pha thịt lợn, tiết canh và lòng thì là món chế biến đầu tiên, còn lại phần nướng, phần xào, phần đem muối để ăn dần. Riêng chiếc hàm lợn sẽ được treo ở góc bếp như một vật linh thiêng để phù hộ gia đình, chỉ cần nhìn vào góc bếp, đếm số hàm lợn sẽ biết tuổi của ngôi nhà.

Sáng mùng một người Hà Nhì cũng cúng tổ tiên, nhưng cách cúng của họ cũng đặc biệt, không mâm cao cỗ đầy mà chỉ có một mâm nho nhỏ gồm 2 bát cháo lòng phèo lợn và hai bát nước (bên trong có loại lá gì đấy tôi không biết). Bàn thờ người Hà Nhì là một chiếc rỏ mây nhỏ xíu, treo trên cột cái của nhà và trong buồng ngủ của bố mẹ. Bác chủ nhà giải thích, đấy là nơi linh thiêng nhất trong nhà của người Hà Nhì, không ai được động vào, muốn động vào thì phải mổ gà cúng. Thế nên tôi cũng không dám vào tận nơi xem bên trong giỏ mây đó có những gì. Cánh cúng tổ tiên của họ cũng đặc biệt vì mang một tính ước lệ cúng tổ tiên xung quanh giường ngủ, quy định là đầu gường và cuối giường. Đầu giường là cúng bên nội, cuối giường là cúng bên ngoại. Nhà của người Hà Nhì ở Điện Biên không phải là nhà đất trình tường mái rạ, mà chủ yếu là nhà gỗ vách rơm đất, mái tôn.
Mâm cỗ cúng sẽ bắt đầu ở nhà người con trai cả, nơi bố mẹ nếu còn sống đang ở, và quanh gường của bố mẹ, sau đấy các anh em trai truyền nhau mang mâm cơm cúng đấy về từng nhà riêng, và cúng quanh giường của mình. Đầu tiên là bố mẹ vái, rắc cháo và nước xuống đất ở quanh đầu và cuối giường. rồi lần lượt đến con cái trong nhà. Trong phòng lúc này sẽ có chậu than hồng với ý nghĩa đấy là ngọn lửa sưởi ấm tổ tiên, ông bà. Người Hà Nhì cũng thắp ba nén hương với ý nghĩa một nén cầu sức khỏe, một nén cầu kinh tế, một nén cầu đất đai (ruộng vườn, nhà cửa…).

Sau nghi lễ cúng, mâm cỗ đã bầy sẵn ra chờ khách. Nhà nào xong trước mời khách trước. Trẻ con, phụ nữ là người có nhiệm vụ đi mời. Đàn ông phải ở nhà ngồi chờ khách, nếu đi sang nhà khác là bị kéo vào bữa rượu nhà nào đấy dọc đường đi là vừa không mời được khách, vừa không có chủ nhà nên cỗ nhà mình sẽ ế.
Rượu rót tràn ly, những lời chúc năm mới ngập khắp gian bếp. Lời chúc cũng giản dị: Chúc sang năm gia đình thịt được con lợn to hơn. Chúc gia đình mạnh khỏe. Chúc sang năm mới sinh con trai/con gái.
Mâm cỗ mừng năm mới của người Hà Nhì dù thịt con lợn đến cả tạ. Thịt có làm bao nhiêu món nhưng không được thiếu món cháo rau. Người Hà Nhì giải thích món ăn này để họ tưởng nhớ ông bà thủa xưa nghèo đói chỉ có rau cháo ăn qua ngày. Nhưng món cháo này cũng giúp bạn giã rượu.
Rượu của người Hà Nhì nấu từ ngô nhưng không giống rượu Bắc Hà, rượu rất nhẹ và êm. Bạn có thể uống đến mức chối phải nôn ra nhưng người bạn không nóng, mặt không đỏ, đầu óc vẫn tỉnh như không phải bạn đang uống rượu, nhưng khi rượu đã ngấm thì bạn cũng sẽ say lăn quay không biết gì. Nhưng sáng ngủ dậy đầu nhẹ tênh và lại bước vào bữa rượu mới đã bầy sẵn trong bếp.
Người phụ nữ Hà Nhì mấy ngày tết cứ loanh quanh trong bếp phục vụ hết bữa rượu này đến bữa khác chu đáo tận tình với nụ cười luôn thường trực trên môi. Thỉnh thoảng mới nói một vài câu, còn lại họ lui cui ngồi quanh bếp lửa hâm nóng thức ăn, thêm bát đũa cho những vị khách mới đến bên mâm cỗ cả ngày luôn đầy thức ăn và khách qua lại.
Ngày mùng hai tết, người Hà Nhì có lệ giã bánh dầy. Bánh dầy làm từ xôi nếp mới, giã rồi đem phơi khô ăn dần. Có thể nướng hoặc rán. Người Hà Nhì nói ăn ngon hơn phồng tôm của người Kinh và uống rượu thì rất vào.
Mấy ngày ở Apchai, chúng tôi ở nhà anh Lỳ Á Thành - phó bí thư đảng ủy bản Sín Chải (Anh Lệ nhận con trai anh Thành làm con nuôi, tiếng Hà Nhì hai người gọi nhau là Sín Cha). Chúng tôi cũng chỉ là bạn của bạn mà cả gia đình đón tiếp như khách quý, như người thân đi xa mới về.




Bạn đã xem hai bạn hát song ca chung một mic, đến lượt ai hát thì chuyển mic cho nhau.

Bạn đã xem diễn viên múa trang phục là quần áo ngày thường, được làm cho đẹp thêm bằng băng dính…
Bạn đã xem đêm văn nghệ diễn viên múa tất cả các điệu.


Chắc những đêm văn nghệ như thế giờ chỉ còn có ở những vùng cao như Apachai.
Sau đêm văn nghệ là múa xòe. Trong tiếng trống tiếng chiêng những chàng trai cô gái và du khách nắm tay nhau kết vòng tròn xòe theo nhịp: Xòe a nhí xòe, xòe a cù xòe (Chàng trai múa, cô gái múa).


Cuối buổi, khi xòe đã mệt, những người già nghỉ hết, nhạc nhẩy điệu nhạc No limit, các bạn ào vào nhẩy theo những điệu hiện đại, khiến tôi bật cười nhớ lại tôi cũng đã có thời đi cắm trại và nhẩy nhót theo đúng những điệu nhạc này cách đây lâu lắm rồi.
Điều cuối cùng tôi muốn viết về chuyến đi này là những bạn trẻ miền xuôi lên đây làm giáo viên tiểu học, cán bộ y tế xã, thanh niên xung kích… mà tôi đã gặp, Các bạn quê ở khắp miền, lên đây ăn cùng, ở cùng bà con dân bản. Nơi chưa có điện lưới, chưa có nước sạch, sóng điện thoại chập trờn lúc có lúc không, lúc nào có sóng điện thoại người ta báo nhau như tin vui… Nhưng tôi nhìn thấy niềm vui trong ánh mắt các bạn. Tôi được nghe các bạn nói niềm tin vào tương lai tốt đẹp, Tôi hiểu các bạn đang rất yêu công việc các bạn đang làm.
Và tôi khâm phục các bạn, các bạn giúp tôi nhìn thấy cuộc đời còn rất nhiều điều tốt đẹp. Và các bạn là những điều tốt đẹp nhất, các bạn đã dùng quãng thời gian đẹp nhất của cuộc đời để đem đến cuộc sống tốt đẹp hơn cho những người dân ở vùng núi xa. Và tôi đã nhìn thấy những thành quả từ sự cống hiến của các bạn ở những em bé người Hà Nhì thông minh, lanh lợi.



Apachai giờ đường đã dễ đi hơn, cầu đã xây xong, giấy phép vào vùng biên giới cũng đã bỏ, cột mốc số 0 còn có cả chợ phiên tháng họp 3 lần để cùng giao lưu với chợ phiên của người TQ, nếu có thời gian và cơ hội, các bạn hãy lên Apachai một lần.
Hôm nay là ngày thứ 12 của hành trình. Cả đoàn đều mệt, vật vã trên xe ô tô. Nhưng tôi từ vụ say rượu hôm trước đến hôm nay đã hoàn hồn.
Đi trên đường rất nhiều cảnh đẹp mà chẳng ai động chân động tay chụp ảnh và mở mắt ra để nhìn. Đến Hồ đẹp nhất thảo nguyên cũng không vào, đến chỗ sông Hoàng Hà và sông Trường Giang hợp thành một cũng không vào. Ngoài mệt ra, phần nữa vì toshiba cái bọn Tầu, chỗ nào cũng rào vào để thu tiền. Cái chỗ hồ thì thu đến 75 tệ, chố sông thì thu đến 50 tệ. Các bạn nhìn thấy sông đã chán, cộng thêm phải leo mấy trăm bậc thang lên núi để ngắm sông thì chán hẳn, thôi bỏ qua.
Cậu máu chụp ảnh nhất trong đoàn thì hậm hực và giận dỗi, nói mát các bạn còn lại suốt.
Đến đoạn Hongwen, tự dưng bạn guider bảo không còn nhiều thứ để xem nữa đâu, cộng thêm mệt nữa nên không nói ra nhưng một số bạn đã muốn về lắm rồi. Tôi cũng muốn về nhà, nhưng đường thì còn xa. Muốn về được nhà thì phải chạy xe một mạch ít nhất là 3 ngày nữa mới về đến Thành Đô, rồi từ đấy mới có máy bay mà về.
Mọi người đều mệt, chỉ muốn ngủ và thèm ăn đồ ăn Việt Nam, chán đồ ăn bọn Tầu kinh khủng vì toàn xào, canh thì cái gì cũng cho trứng. Canh rau thì cho một đĩa trứng rán to uỵch lên trên. Dễ ăn nhất vẫn là món Mây trắng lượn vườn hồng - tức là canh trứng cà chua nấu đúng kiểu Việt Nam. Nhưng mà ngày nào cũng ăn đến phát ớn.
Mọi người đều mệt, bạn chăm viết nhật ký nhất đoàn cũng chẳng thèm viết nữa, bảo chỉ viết được mỗi câu "Hôm nay rất mệt". Bạn chăm tạo dáng nhất đoàn để cho các bạn khác cầm máy ảnh chụp cũng chẳng thèm tạo dáng nữa.
Chắc tối nay cả đoàn sẽ họp nhau lại để quyết định hành trình tiếp theo. Tôi nghĩ cả đoàn sẽ thống nhất về sớm hơn dự kiến. Chỉ có cậu máu mê chụp ảnh và thích giang hồ là sẽ lại giận dỗi mọi người.
Tôi bắt đầu nhớ nhà, nhớ những công việc hàng ngày mình thấy nhàm chán. Không biết lúc về, tôi sẽ không phải đi làm tôi sẽ chán đến mức nào nữa. Giờ đang đi chơi đã chán về nhà nằm nhà còn chán hơn.
Hôm qua sinh nhật một bạn trong đoàn, chúng tôi mua thịt bò Yak, rau rồi mượn bếp khách sạn để làm bữa beefteak ăn với rau luộc chấm nước mắm. Ngon đã đời luôn. Còn các bạn đầu bếp Tầu thì mắt tròn mắt dẹt nhìn bọn tôi nấu ăn. Tôi ngon mồm nên uống say một trận lử đử, cả ngày hôm nay mệt chả thiết ăn uống, đi lại, chụp ảnh. Đã mệt lại cộng thêm nhớ nhà nên tôi đang rất chán. Trong đầu tự hỏi, tại sao lại đi xa thế và đi lâu ngày thế.
Bây giờ chúng tôi đang ở Tatshalamo, một thị trấn nhỏ nằm ép dưới chân núi. Thị trấn nghèo nên tu viện ở đây cũng nghèo. Vấn kiến trúc giống hệt các tu viện ở Rebkong hay Labrang chúng tôi vừa đi qua, nhưng mái tôn cũ kĩ dột nát hoặc mái gỗ. Buổi chiều từ trên núi đi xuống, tôi thấy những ông già, bà già tay cầm kinh luân quay quay, trong nắng chiều tà nhìn rất buồn.
Buổi chiều ở tu viện rất buồn. Chiều hôm qua ở Labrang cũng thế. Dù Labrang là trường đại học lớn nhất dành cho các Monk ở cả vùng Tây Tạng, có đến 700 người theo học Triết học và 150 người theo học Y khoa ở đây, nên cả thị trấn chỗ nào cũng nhìn thấy Monk, từ trong quán ăn, cửa hàng, chợ… Nhưng chiều đến, trong ánh nắng xiêu xiêu, nhìn các Monk áo đỏ đi cạnh những dãy nhà ở tường đất, mái gỗ cây cỏ um tùm, những ngõ nhỏ nhỏ, nhìn rất rất rất buồn.
Ở tu viện Labrang, có một bạn monk đẹp trai, trẻ trung (25 tuổi) và nói tiếng Anh chuẩn nên được cử ra làm hướng dẫn viên cho các bạn người nước ngoài. Bạn đã đi tu được 13 năm và đến Labrang 3 năm để học Triết học. Bạn mong muốn được sống ở đây cả đời.
Không biết, hết cuộc đời bạn, tu viện sẽ ra sao, có bị các bạn Tầu vào phá sạch những dãy nhà tường đất, mái siêu kia để thay vào đấy một tòa chung cư nhiều tầng không? Dân tộc Tạng của bạn sẽ ra sao, có từ bỏ thảo nguyên kia để nhét vào sống trong thành phố, thị trấn chật chội không. Và triết học mà bạn theo học sẽ ra sao, khi mà các bạn Tầu đã đóng hết cửa để người Tạng có thể giao lưu với thế giới bên ngoài. Chắc nó cũng sẽ dần dần tàn lụi. Và hơn nữa, niềm tin của bạn có mất dần đi không, khi mà nền văn hóa nuôi dưỡng bạn đang Tầu hóa từng ngày? Hay rồi cũng đến một ngày Phật giáo Tây Tạng cũng tàn lụi giống như Phật Giáo Ấn Độ 7-8 thế kỷ về trước.
Sáng nay tôi rời Rebkong để đi Labrang.
Tu viện Rebkong buổi sáng rất bình yên và trong trẻo, tu viện này không có khách du lịch Tầu nên càng thành bình hơn. Toshiba cái bọn Tầu, đi đến đâu cũng oang oang cái loa hướng dẫn, còn bọn du khách thì nhổ nước bọt xoèn xoẹt.
Buổi sáng trong tu viện, chỉ có những người Tạng thành kính và cần mẫn đi vòng quanh tu viện và quay các kinh luân trải dài theo cả con phố.
Sáng nay, có một lễ rước một vị Ladma cao cấp nào đấy đi qua tu viện và đi qua thị trấn. Cả thị trấn và các monk đổ ra hai bên đường để đón. Đoàn rước rất dài, các bạn đi xe máy thì cắm hoa và khăn vàng, trắng quấn quanh xe, mặc quần áo dân tộc rất đẹp. Các bạn đi ô tô thì khăn vàng, trắng buộc khắp mọi nơi trên xe. Nhưng cả đoàn chờ đỏ mắt cũng chả biết vị Ladma đi xe nào. Cậu hướng dẫn cũng không biết luôn. Thế là nhân lúc tu viện vắng người, tôi lang thang một mình vào bên trong trước.
Tu viện ở Rebkong bị bọn Tầu phá vào thời kỳ cách mạng văn hóa, và được xây mới lại gần đây (theo bảng hướng dẫn thì vào khoảng những năm 90). Tuy nhiên các bạn xây lại theo kiến trúc Tạng nhiều hơn Tầu. Tức là rất lộn xộn và lổn nhổn. Đến cái Potala còn lộn xộn và tối thui. Thế nhưng lộn xộn là đặc trưng kiến trúc của các bạn Tạng. Còn tối thui, cộng thêm mùi bơ của bò Yak làm cho các tu viện tăng thêm phần huyền bí.
Các bức tượng ở tu viện Rebkong đều to và rất đẹp. Tượng ở đây mang nhiều phong cách phật giáo của Tầu, nên nhìn hiền lành hơn, không dữ tợn như ở Lhasa. Tôi đặc biệt thích tượng Phật Adida của người Tạng. Những bức tượng này không phải là ông Phật cười rung rốn như Phật giáo Việt Nam và Tầu, mà luôn rất uy nghiêm mà hiền lành, và luôn luôn cúi xuống. Việt Nam và Trung Quốc thường thờ Thích Ca Mâu Ni, còn ở Tây Tạng rất ít tượng Thích Ca mà nhiều nhất là Adida, Tara và Quán thế âm nghìn mắt, nghìn tay. Có thể vì Dân tốc Tạng tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp hơn và tìm kiếm một sự che chở và cứu giúp từ cõi Phật.
Sau tu viện Rebkong là Wutun, vì thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ dừng bên ngoài chụp ảnh, và bên trong cũng là một tu viện nho nhỏ, chỉ có hàng Stupa ở ngoài rất đẹp.
Buổi chiều, xe chạy qua thảo nguyên bát ngát. Đây là quãng đường đẹp nhất từ đầu hành trình đến giờ. Thảo nguyên xanh bát ngát, núi xa xa, còn mây thì rất gần.
Nếu đi qua, nhất định phải dừng lại để chụp ảnh.